
Lăng Bà tuy đã mang nhiều nét hoang phế bởi thời
gian, nhưng dân làng Thu Bồn vẫn một lòng thành kính trước uy linh của
Bà. Người già kể rằng : "Hồi xưa, Bà thiêng lắm ! ". Có người làng đến
xin Bà cứu một người đẻ khó, Bà nhập vào xác đồng rồi cầm cây đèn cầy
chạy băng qua cánh đồng rộng mà đèn vẫn không tắt, đến nơi bà đưa tay
vuốt một cái, thai sổ ngay. Lần khác, năm Mậu Thìn (1928), làng Thu Bồn
mất mùa, mọi người bàn nhau lễ hội Bà năm ấy làm đơn giản thôi. Đang bàn
thì có một con bò đi vào giữa sân rồi nằm xuống, trên sừng có treo một
xâu ba ngàn quan tiền. Mọi người biết là Bà cho tiền và lấy tiền tổ chức
hội, còn bò thì thả vào rừng.
Có người theo dõi thấy bò đi vào khu tháp
Mỹ Sơn rồi nằm xuống và hoa thành đá.Lần sắc phong đầu tiên dưới triều
Minh Mạng, Bà Thu Bồn không có tên. Bà nhập đồng ở giữa kinh thành Huế
để chất vấn. Quan phụ trách hỏi rằng làm thế nào để tin bà thiêng ? Bà
bảo : Sẽ làm cháy chợ Đông Ba ! Một lúc sau có người chạy vào báo chợ
đang cháy. Quan xin đừng cháy nữa, lập tức có một trận mưa như trút
nước. Tờ sắc phong của triều đình nhà Nguyễn cho Bà Thu Bồn ghi : "Thiên
Y A Na diễn phi chu ngọc tôn thần, hộ quốc túy dân, hiển hữu công đức
tiết mộng ban cấp tôn thần".Như vậy, Bà Thu Bồn chính là một nữ thần bảo
hộ của người Chàm, và người Việt đã tiếp nhận sự linh thiêng của vị nữ
thần này với một niềm tin mạnh mẽ và được duy trì qua các lễ hội thành
kính hàng năm.






