Sikhote-Alin là một dãy núi tại các krai Primorsky
và Khabarovsk, Liên bang Nga, kéo dài khoảng 1.200 km về phía đông bắc
của hải cảng trên bờ Thái Bình Dương thuộc Nga là Vladivostok. Chiều
rộng chỗ lớn nhất đạt tới 250 km. Đỉnh cao nhất là núi Tordoki-Yangi
(2.077 m).Khu vực miền núi này được tạo ra do các nếp uốn thời kỳ Đại
Trung sinh trong Vành đai nếp uốn Thái Bình Dương ở Viễn Đông Nga, là
đường phân thủy lưu vực sông Amur, biển Nhật Bản và vịnh Tatar.
Cấu tạo địa hình của khu vực là các lớp trầm tích sa thạch-phiến thạch với nhiều đứt gãy, là điều kiện để tồn tại các mỏ vàng, thiếc và nhiều kim loại khác. Trong các lòng chảo kiến tạo tại khu vực Sikhote-Alin có các mỏ than đá và than nâu. Trong khu vực giáp núi là các cao nguyên bazan. Ở phía nam và phía đông Sikhote-Alin là sơn hệ với các vách núi dốc đứng có độ cao vừa phải, ở phía tây là nhiều thung lũng và lòng chảo chạy dọc theo dãy núi.
Thực vật:thảm thực vật của Sikhote-Alin khá đa dạng: ở phía nam và phần trung tâm của khu vực miền núi này tới độ cao khoảng 500 m là các cánh rừng lá kim-lá bản rộng với sự chiếm ưu thế của các loài thực vật Mãn Châu, ở phần phía bắc là các rừng lá kim với vân sam (chi Picea) và linh sam (chi Abies). Trên các độ cao lớn hơn thì có thể thấy các đài nguyên núi cao.
Động vật:Sikhote-Alin là một trong những khu vực ôn
đới lạ thường nhất trên thế giới. Các loài động vật đặc trưng của rừng
taiga miền bắc (chẳng hạn tuần lộc (Rangifer tarandus) và gấu nâu (Ursus
arctos)) cùng sinh sống với các loài nhiệt đới, như hổ Amur (Panthera
tigris altaica), báo Siberi (Panthera pardus orientalis) và gấu
Himalaya. Một lượng lớn động vật hoang dã trong khu vực Sikhote-Alin và
Lazo đã được thiết lập sự bảo vệ để bảo tồn cuộc sống hoang dã của
chúng.
Di sản thế giới:Năm 2001, UNESCO đã đưa
Sikhote-Alin vào danh sách Di sản thế giới, đề cập tới tầm quan trọng
của nó là cho "...sự tồn tại của các loài đang nguy cấp như vịt hoang
Trung Quốc, cú ăn cá Blakiston và hổ Amur".Trong các năm từ 1910 - 1930,
Sikhote-Alin đã được Vladimir Arsenyev (1872 - 1930) nghiên cứu khá kỹ
lưỡng. Ông đã miêu tả các cuộc thám hiểm của mình trong một số cuốn
sách, đáng chú ý là cuốn Dersu Uzala (1923), vào năm 1975 đã được Akira
Kurosawa chuyển thể thành phim đoạt giải Oscar.






